Trả lời ngắn gọn: Việc bị bắt vì bạo lực gia đình không phải là bản án kết tội, và cáo buộc ghi trong biên bản cảnh sát không phải là yếu tố quyết định tương lai di trú của quý vị. Kết quả giải quyết vụ án mới là yếu tố quyết định. Theo INA § 237(a)(2)(E)(i), bản án kết tội về tội bạo lực gia đình (crime of domestic violence), theo dõi quấy rối hoặc ngược đãi trẻ em khiến người có thẻ xanh hoặc người không có quốc tịch Hoa Kỳ khác đã được cho phép nhập cảnh có thể bị trục xuất; theo INA § 101(a)(48)(A), việc hoãn tuyên án (deferred adjudication) hoặc nhận tội mà không phải ngồi tù vẫn có thể được coi là bản án kết tội. Trước khi chấp nhận bất kỳ lời nhận tội (plea), thỏa thuận án treo có giám sát (probation) hoặc chương trình chuyển hướng xử lý vụ án (diversion) nào, hãy để luật sư di trú phối hợp với luật sư bào chữa hình sự của quý vị xem xét chính xác điều luật, nội dung nhận tội, hình phạt và mọi lệnh bảo vệ.

Cuộc gọi thường đến hai ngày trước ngày ra tòa. Một thường trú nhân hợp pháp bị bắt sau cuộc cãi vã tại nhà; công tố viên đề nghị cho hưởng án treo có giám sát, không phải ngồi tù nếu người này nhận một tội khinh tội, và luật sư bào chữa công của ông cho rằng đó là một thỏa thuận có lợi. Vợ ông đã nói với tòa rằng bà không muốn yêu cầu truy tố. Mọi người có mặt đều xem đây là một vụ án hình sự sắp kết thúc. Đối với người không có quốc tịch Hoa Kỳ, đây lại là một vụ việc di trú chưa bắt đầu, và hồ sơ nhận tội chính là tài liệu sẽ quyết định kết quả của vụ việc đó.

Hướng dẫn này dành cho người có thẻ xanh, người có thị thực và những người không có quốc tịch Hoa Kỳ khác đang đối mặt với cáo buộc bạo lực gia đình, hành hung hoặc vi phạm lệnh bảo vệ và chưa chấp nhận nhận tội. Đây không phải là hướng dẫn về chiến lược bào chữa hình sự, vốn thuộc trách nhiệm của luật sư hình sự của quý vị, và cũng không hứa rằng mọi vụ án đều có phương án “nhận tội an toàn” (safe plea). Hướng dẫn giải thích những nội dung luật sư di trú kiểm tra và lý do việc xem xét này phải diễn ra trước khi vụ án được giải quyết, chứ không phải sau đó.

Bị Bắt Vì Bạo Lực Gia Đình Và Tình Trạng Di Trú: Những Điều Cần Kiểm Tra Trước Khi Nhận Tội

Vì sao riêng việc bị bắt chưa phải là vấn đề quyết định, còn việc nhận tội thì có

Luật di trú nhìn chung đặt ra hậu quả pháp lý đối với bản án kết tội, chứ không phải việc bị bắt. Căn cứ trục xuất liên quan đến bạo lực gia đình trong INA § 237(a)(2)(E)(i) áp dụng đối với người không có quốc tịch Hoa Kỳ “bị kết tội về” (is convicted of) tội bạo lực gia đình, theo dõi quấy rối, hoặc ngược đãi, bỏ bê hay bỏ rơi trẻ em vào bất kỳ thời điểm nào sau khi được cho phép nhập cảnh. Việc bị bắt mà không có bản án kết tội không làm phát sinh căn cứ đó. Việc này vẫn có thể gây ra các vấn đề, bao gồm lệnh giữ người của ICE (detainer), tức yêu cầu ICE gửi đến cơ sở giam giữ để tiếp tục giữ người, và các câu hỏi trong buổi phỏng vấn nhập quốc tịch hoặc thẻ xanh sau này; tuy nhiên, hồ sơ mang tính quyết định vẫn là kết quả giải quyết vụ án.

Cạm bẫy nằm ở định nghĩa “bản án kết tội” (conviction). Theo INA § 101(a)(48)(A), một bản án kết tội tồn tại khi tòa án chính thức ra phán quyết xác định có tội; hoặc, trong trường hợp tòa chưa ra phán quyết kết tội (withheld adjudication), khi thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn đã xác định người đó có tội, hoặc người đó đã nhận tội hay đưa ra lời khai nolo contendere (không thừa nhận có tội nhưng chấp nhận hình phạt), đồng thời thẩm phán đã áp dụng một hình thức trừng phạt, chế tài hoặc hạn chế tự do nào đó. Vế thứ hai này bao gồm nhiều chương trình “chuyển hướng xử lý vụ án” và hoãn tuyên án của các tiểu bang. Nếu quý vị nhận tội, tòa hoãn ra phán quyết, và quý vị bị áp dụng án treo có giám sát hoặc bị buộc tham gia lớp can thiệp dành cho người có hành vi bạo hành, cơ quan di trú thường sẽ coi đó là bản án kết tội, ngay cả khi tiểu bang sau đó đình chỉ vụ án sau khi quý vị hoàn tất chương trình.

Ngoài ra, INA § 237(a)(2)(E)(ii) quy định rằng người không có quốc tịch Hoa Kỳ có thể bị trục xuất nếu tòa xác định người đó đã vi phạm phần của lệnh bảo vệ nhằm ngăn chặn những đe dọa bạo lực có cơ sở đáng tin, hành vi quấy rối lặp đi lặp lại hoặc tổn thương thân thể. Căn cứ này không đòi hỏi phải có bản án kết tội. Chỉ cần một kết luận tại phiên tòa về hành vi bất tuân lệnh tòa hoặc vi phạm điều kiện án treo có giám sát cũng có thể đủ.

“Tội bạo lực gia đình” thực sự có nghĩa gì tại tòa di trú

Điều luật định nghĩa tội bạo lực gia đình là một tội phạm bạo lực (crime of violence) theo 18 U.S.C. § 16 được thực hiện đối với vợ hoặc chồng hiện tại hay trước đây, người có con chung, người đang hoặc từng chung sống, người có vị trí tương tự vợ hoặc chồng theo pháp luật về bạo lực gia đình của nơi có thẩm quyền, hoặc bất kỳ người nào khác được các luật đó bảo vệ. Định nghĩa này đặt ra hai câu hỏi riêng biệt, và thẩm phán di trú sử dụng các phương pháp khác nhau để trả lời chúng.

Hành vi phạm tội có thuộc loại tội phạm bạo lực không? Vấn đề này được quyết định bằng phương pháp đối chiếu các yếu tố cấu thành tội phạm theo điều luật (categorical approach): thẩm phán xem xét các yếu tố cấu thành của điều luật làm căn cứ kết tội, chứ không xem xét những gì thực tế đã xảy ra. Sau Sessions v. Dimaya, chỉ còn 18 U.S.C. § 16(a) được áp dụng, với yêu cầu phải có hành vi sử dụng, cố gắng sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực đối với người hoặc tài sản của người khác. Một điều luật có thể bị vi phạm chỉ bằng hành vi đụng chạm mang tính xúc phạm mà không gây thương tích, hoặc bằng hành vi bất chấp nguy cơ theo án lệ của một số khu vực tài phán phúc thẩm liên bang, có thể không đáp ứng tiêu chuẩn này, ngay cả khi biên bản cảnh sát mô tả sự việc nghiêm trọng hơn. Một điều luật đòi hỏi phải có tổn thương thân thể hoặc sử dụng vũ lực thường đáp ứng tiêu chuẩn đó.

Nạn nhân có thuộc mối quan hệ được pháp luật bảo vệ không? Trong Matter of H. Estrada, 26 I&N Dec. 749 (BIA 2016), BIA xác định rằng câu hỏi này được giải quyết bằng phương pháp xem xét hoàn cảnh cụ thể (circumstance-specific approach). Thẩm phán di trú có thể xem xét ngoài các yếu tố cấu thành của điều luật, bao gồm biên bản cảnh sát, văn bản cáo buộc và các chứng cứ khác, để xác định nạn nhân là vợ, chồng hoặc bạn đời. Việc nhận tội theo một điều luật chung về hành hung không đề cập đến mối quan hệ giữa các bên, tự nó, không ngăn được tòa di trú xem xét mối quan hệ gia đình đó.

Những hậu quả khác của bản án kết tội ngoài nguy cơ bị trục xuất

Kết quả giải quyết một vụ án bạo lực gia đình có thể đồng thời làm phát sinh nhiều hậu quả, và các hậu quả này không phụ thuộc lẫn nhau.

  • Có thể bị trục xuất theo INA § 237(a)(2)(E)(i) đối với người không có quốc tịch Hoa Kỳ đã được cho phép nhập cảnh, bao gồm thường trú nhân hợp pháp, bất kể hình phạt được tuyên là gì.
  • Bị xếp vào diện trọng tội nghiêm trọng (aggravated felony) theo INA § 101(a)(43)(F) nếu tội danh là tội phạm bạo lực và mức hình phạt được tuyên là một năm trở lên, kể cả hình phạt tù đã tuyên nhưng được cho hưởng án treo, không phải chấp hành trừ khi vi phạm điều kiện. Bản án kết tội thuộc diện trọng tội nghiêm trọng khiến đương sự không đủ điều kiện xin hủy bỏ lệnh trục xuất, tị nạn và phần lớn các biện pháp cứu trợ di trú khác, đồng thời vĩnh viễn không đủ điều kiện nhập quốc tịch.
  • Các hậu quả liên quan đến tội phạm trái đạo đức (crime involving moral turpitude) theo INA § 212(a)(2)(A)(i)(I), ảnh hưởng đến điều kiện được phép nhập cảnh, điều chỉnh tình trạng di trú để nhận thẻ xanh và tái nhập cảnh sau khi ra nước ngoài, ngay cả đối với người không có quốc tịch Hoa Kỳ không thuộc diện có thể bị trục xuất theo căn cứ bạo lực gia đình.
  • Bắt buộc giam giữ theo INA § 236(c) nếu ICE sau đó bắt giữ người đó. Kể từ khi Laken Riley Act bổ sung INA § 236(c)(1)(E) vào tháng 1 năm 2025, một người không có quốc tịch Hoa Kỳ thuộc diện không được phép nhập cảnh và bị cáo buộc, bị bắt hoặc có bản án kết tội về bất kỳ tội nào gây tổn thương thân thể nghiêm trọng cho người khác có thể bị giam giữ mà không được mở phiên điều trần về tiền bảo lãnh di trú. Quy định đó áp dụng cả với việc bị bắt, không chỉ với bản án kết tội, và sử dụng các định nghĩa của nơi có thẩm quyền tại địa điểm xảy ra hành vi.
  • Việc xác định tư cách đạo đức tốt khi xét nhập quốc tịch và hủy bỏ lệnh trục xuất, trong đó cơ quan có thẩm quyền xem xét hành vi trong thời gian luật định, bất kể có bản án kết tội hay không.
  • Các vấn đề về gia hạn và đi lại, bao gồm việc bị thẩm vấn tại sân bay khi trở về từ nước ngoài và bị chuyển sang thủ tục trục xuất khi hồ sơ gia hạn thẻ xanh hoặc xin nhập quốc tịch khai báo vụ việc.

Những gì chúng tôi thường gặp khi đương sự đã nhận tội trước khi được tư vấn di trú

Một tình huống điển hình trong quá trình hành nghề của chúng tôi: một thường trú nhân chấp nhận nhận một tội khinh tội, được hoãn tuyên án và chịu án treo có giám sát trong một năm, hoàn thành mọi lớp học, rồi được đình chỉ vụ án theo luật tiểu bang. Ba năm sau, người đó nộp đơn xin nhập quốc tịch, khai báo trung thực việc bị bắt, và USCIS ban hành Thông báo Ra hầu tòa (Notice to Appear) tại tòa di trú vì việc hoãn tuyên án được coi là bản án kết tội theo luật di trú liên bang, còn điều luật làm căn cứ kết tội đòi hỏi phải có hành vi sử dụng vũ lực. Vụ án hình sự đã kết thúc tốt đẹp xét theo mọi tiêu chuẩn của tiểu bang. Vụ việc di trú bắt đầu ngay từ ngày lời nhận tội được ghi nhận, và đến lúc đó, những công cụ còn lại chỉ là các biện pháp khắc phục sau bản án kết tội tại tòa hình sự cùng những biện pháp cứu trợ di trú theo quyền cân nhắc vẫn còn có thể xin được.

Các biện pháp khắc phục sau bản án kết tội không phải là phương án dự phòng đáng tin cậy. Theo Matter of Pickering, 23 I&N Dec. 621 (BIA 2003), và Matter of Thomas and Thompson, 27 I&N Dec. 674 (A.G. 2019), việc hủy bản án kết tội hoặc sửa đổi hình phạt chỉ được công nhận cho mục đích di trú khi thay đổi đó dựa trên sai sót về thủ tục hoặc nội dung pháp luật trong quá trình tố tụng hình sự. Việc hủy bản án vì lý do cải tạo tốt, hoàn cảnh khó khăn hoặc để tránh hậu quả di trú không có hiệu lực đối với việc xét di trú. Vì vậy, chính giai đoạn nhận tội, khi đương sự hiểu rõ quyết định của mình và đã được xem xét đầy đủ các hậu quả di trú, mới thực sự là lúc định đoạt thành bại của vụ việc.

Luật sư di trú kiểm tra những gì trước khi quý vị nhận tội

Trong Padilla v. Kentucky, 559 U.S. 356 (2010), Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xác định rằng luật sư bào chữa hình sự phải tư vấn cho thân chủ không có quốc tịch Hoa Kỳ về nguy cơ bị trục xuất do nhận tội. Trên thực tế, chất lượng tư vấn đó phụ thuộc vào chất lượng phân tích pháp luật di trú làm cơ sở cho lời tư vấn. Dưới đây là những nội dung chúng tôi xem xét cùng luật sư bào chữa trước ngày giải quyết vụ án.

  • Chính xác điều luật và khoản áp dụng. Không chỉ là tên gọi “hành hung” hay “hành hung người trong gia đình”, mà là điều khoản cụ thể trong bộ luật, các yếu tố cấu thành mà bên công tố tiểu bang phải chứng minh, và liệu điều luật có thể được tách thành các tội danh riêng, trong đó có tội thuộc loại tội phạm bạo lực và có tội không thuộc loại này hay không.
  • Tình trạng di trú và cách quý vị nhập cảnh. Thường trú nhân hợp pháp đối mặt với các căn cứ trục xuất; người nhập cảnh không qua kiểm tra lại đối mặt với các căn cứ không được phép nhập cảnh, và căn cứ bạo lực gia đình không áp dụng theo cùng một cách. Hồ sơ đang chờ giải quyết về điều chỉnh tình trạng di trú, tị nạn hoặc VAWA lại làm thay đổi việc đánh giá.
  • Hình phạt, bao gồm thời hạn tù được cho hưởng án treo và thời hạn án treo có giám sát. Mức hình phạt một năm trở lên đối với tội phạm bạo lực khiến tội đó thuộc diện trọng tội nghiêm trọng, ngay cả khi quý vị không phải chấp hành một ngày tù nào. Mức hình phạt 364 ngày làm thay đổi cách phân tích.
  • Mọi điều kiện của việc hoãn tuyên án, chuyển hướng xử lý vụ án hoặc chương trình can thiệp trước xét xử (pretrial intervention). Việc quý vị nhận tội ngay rồi tòa hoãn ra phán quyết, hay cáo buộc được bác bỏ trước khi quý vị đưa ra bất kỳ lời nhận tội nào, quyết định liệu có tồn tại bản án kết tội theo INA § 101(a)(48)(A) hay không.
  • Các lệnh bảo vệ. Lệnh hình sự hoặc dân sự có những điều khoản nào, tòa đã có kết luận vi phạm hay đang xem xét vấn đề này hay không, và liệu thủ tục xét hành vi bất tuân lệnh tòa có thể dẫn đến một kết luận thuộc phạm vi INA § 237(a)(2)(E)(ii) hay không.
  • Hồ sơ về các tình tiết thực tế. Vì mối quan hệ được xác định dựa trên hoàn cảnh cụ thể, văn bản cáo buộc, phần thẩm vấn của tòa khi tiếp nhận lời nhận tội và bản khai có tuyên thệ về căn cứ xác đáng đều quan trọng. Những tình tiết được các bên thống nhất thừa nhận công khai trước tòa có thể được sử dụng về sau.
  • Những biện pháp cứu trợ di trú vẫn còn có thể xin được. Liệu sau mỗi phương án giải quyết vụ án được đề xuất, quý vị còn có thể xin hủy bỏ lệnh trục xuất, điều chỉnh tình trạng di trú, áp dụng ngoại lệ dựa trên VAWA dành cho một số nạn nhân theo INA § 237(a)(7), hoặc các biện pháp cứu trợ di trú khác hay không.

Vì sao “không phải ngồi tù” là thước đo không phù hợp

Luật sư bào chữa hình sự có lý do chính đáng khi thương lượng để thân chủ không phải bị giam giữ. Đối với người không có quốc tịch Hoa Kỳ, mức độ thuận lợi của kết quả di trú khi nhận tội thường ngược với mức độ thuận lợi của kết quả hình sự. Nhận tội theo một điều luật đòi hỏi hành vi sử dụng vũ lực, với hình phạt một năm tù được cho hưởng án treo, có thể khiến tội đó thuộc diện trọng tội nghiêm trọng dù không phải chấp hành ngày tù nào. Nhận tội theo một điều luật khác, với thời gian tù ngắn và không có yếu tố cấu thành về mối quan hệ gia đình, có thể gây rủi ro di trú thấp hơn nhiều. Việc trên thực tế có thể thay bằng một cáo buộc khác hay không phụ thuộc vào công tố viên, các tình tiết và luật của tiểu bang, và chỉ luật sư hình sự của quý vị mới có thể thương lượng việc đó. Vai trò của luật sư di trú là cho cả quý vị và luật sư hình sự biết, trước khi nhận tội, kết quả nào còn cho phép bảo vệ quyền lợi di trú và kết quả nào không.

Thời điểm cũng quan trọng như nội dung. Một khi lời nhận tội đã được ghi nhận, việc rút lại rất khó; như đã giải thích ở trên, việc hủy bản án về sau phải dựa trên một sai sót pháp lý. Nếu ngày ra tòa rơi vào tuần này, thì việc xem xét hậu quả di trú phải được hoàn tất trong tuần này, chứ không phải vào tháng sau khi đã tuyên hình phạt.

Nếu quý vị đồng thời đang bị ICE giam giữ hoặc dự kiến sẽ có lệnh giữ người của ICE, hãy đọc các hướng dẫn của chúng tôi về cách hồ sơ hình sự ảnh hưởng đến tiền bảo lãnh di trú và cần làm gì khi ICE bắt một người không có hồ sơ hình sự. Nếu cáo buộc phát sinh từ một mối quan hệ mà chính quý vị là người bị bạo hành, luật sư cũng cần đánh giá khả năng tự nộp đơn theo VAWA hoặc áp dụng các biện pháp bảo vệ liên quan trước khi quý vị nhận tội.

Quý Vị Đang Đối Mặt Với Cáo Buộc Bạo Lực Gia Đình?

Hãy để luật sư di trú xem xét điều luật, đề nghị thỏa thuận nhận tội, hình phạt và lệnh bảo vệ trước ngày giải quyết vụ án của quý vị. Gọi 888-902-9285.

Đặt Lịch Tư Vấn

Câu Hỏi Thường Gặp

Tôi bị bắt vì bạo lực gia đình nhưng các cáo buộc đã được rút bỏ. Tôi có thể bị trục xuất không?

Cáo buộc đã được rút bỏ mà không có lời nhận tội và không có kết luận có tội không phải là bản án kết tội theo INA § 101(a)(48)(A), nên căn cứ trục xuất do bản án kết tội về bạo lực gia đình không áp dụng. Quý vị vẫn có thể bị hỏi về việc bị bắt trong buổi phỏng vấn nhập quốc tịch hoặc thẻ xanh, và một kết luận riêng về việc vi phạm lệnh bảo vệ có thể làm phát sinh căn cứ trục xuất độc lập; vì vậy, hãy giữ giấy tờ đình chỉ vụ án và nhờ luật sư xem xét toàn bộ hồ sơ.

Hoãn tuyên án hoặc chương trình chuyển hướng xử lý vụ án có được coi là bản án kết tội không?

Thường là có. Nếu quý vị nhận tội hoặc đưa ra lời khai nolo contendere và tòa áp dụng án treo có giám sát, yêu cầu tham gia lớp học, nộp tiền phạt hoặc chịu bất kỳ hạn chế tự do nào khác trong khi hoãn ra phán quyết, luật di trú coi đó là bản án kết tội, ngay cả khi tiểu bang đình chỉ vụ án về sau. Chương trình bác bỏ cáo buộc mà không có bất kỳ lời nhận tội nào được xem xét theo cách khác. Điều quan trọng là trình tự nhận tội và đình chỉ vụ án.

Vợ hoặc chồng tôi không muốn yêu cầu truy tố. Điều đó có chấm dứt vụ án không?

Không nhất thiết. Công tố viên, chứ không phải nạn nhân, quyết định có tiếp tục truy tố hay không, và nhiều văn phòng công tố vẫn tiếp tục các vụ án bạo lực gia đình khi không có sự tham gia của người tố cáo với tư cách nhân chứng. Đừng cho rằng vụ án sẽ tự biến mất hoặc việc nhận tội nhanh chóng không gây hại chỉ vì vợ hoặc chồng ủng hộ quý vị. Việc phân tích hậu quả di trú vẫn như nhau, bất kể ai muốn vụ án tiếp tục.

Nếu tôi nhận tội nhưng không phải ngồi tù, tội đó vẫn là tội bạo lực gia đình sao?

Đúng. Căn cứ trục xuất liên quan đến bạo lực gia đình không phụ thuộc vào hình phạt. Bản án kết tội về một tội phạm bạo lực đối với người được pháp luật bảo vệ làm phát sinh căn cứ này, dù hình phạt là án treo có giám sát hay phạt tù. Hình phạt có ý nghĩa đối với một câu hỏi khác: hình phạt tù một năm trở lên được cho hưởng án treo đối với tội phạm bạo lực khiến tội đó thuộc diện trọng tội nghiêm trọng.

Tôi có thể khắc phục về sau bằng cách xin hủy bản án kết tội không?

Chỉ trong một số trường hợp hạn chế. Cơ quan di trú công nhận việc hủy bản án hoặc sửa đổi hình phạt khi quyết định đó dựa trên một sai sót pháp lý trong vụ án hình sự, chẳng hạn như không tư vấn về hậu quả di trú. Việc hủy bản án vì lý do cải tạo tốt, hoàn cảnh khó khăn hoặc để tránh bị trục xuất không được công nhận hiệu lực đối với việc xét di trú. Đừng chấp nhận nhận tội với giả định rằng có thể hủy bỏ việc đó về sau.

Tôi nhập cảnh không qua kiểm tra. Căn cứ bạo lực gia đình có áp dụng với tôi không?

Căn cứ trục xuất theo INA § 237(a)(2)(E)(i) áp dụng đối với người không có quốc tịch Hoa Kỳ đã được cho phép nhập cảnh. Người nhập cảnh không qua kiểm tra thay vào đó bị xử lý theo các căn cứ không được phép nhập cảnh; trong trường hợp này, tội phạm trái đạo đức hoặc trọng tội nghiêm trọng vẫn có thể gây hậu quả nặng nề và có thể khiến người đó không đủ điều kiện điều chỉnh tình trạng di trú. Cách phân tích khác đi, chứ không an toàn hơn, và phải được thực hiện trước khi nhận tội.

MLG có thể xử lý vụ án hình sự của tôi không?

Không. Chúng tôi là luật sư di trú. Chúng tôi phối hợp với luật sư bào chữa hình sự của quý vị để phân tích hậu quả di trú của từng phương án giải quyết vụ án được đề xuất, soạn văn bản tư vấn mà luật sư bào chữa cần theo Padilla v. Kentucky, và đại diện cho quý vị trong mọi thủ tục di trú phát sinh sau đó. Việc thương lượng trong vụ án hình sự thuộc trách nhiệm của luật sư bào chữa của quý vị.